Nghiện công nghệ?

Nghiện công nghệ?

Bạn nghiện smartphone. Tôi cũng nghiện smartphone. Những sản phẩm và dịch vụ chúng ta dùng hàng ngày được thiết kế để đánh cắp sự chú ý (attention) của chúng ta và liên tục được nâng cấp để chúng ta trở nên nghiện smartphone hơn.

Mức độ chú ý của người dùng là nhân tố quyết định sự tồn tại của kinh doanh hiện đại. Đối với các hãng công nghệ khổng lồ như Google, Facebook, Amazon, Netflix và nhiều công ty khác nữa, có một mối tương quan trực tiếp giữa mức độ chú ý của người dùng và mức tăng trưởng/doanh thu/thành công của họ.

Sự cải tiến gần đây của công nghệ đã làm dấy lên những câu hỏi về tâm lý và đạo đức. Chúng ta có đang bị lợi dụng không? Chúng ta có nên có nhiều sự kiểm soát hơn không? Chúng ta có thực sự hiểu rõ những tác động tiêu cực của việc nghiện công nghệ?

Công thức của nghiện ngập

Nghiện công nghệ?
Source: Scott Greer.

Adam Alter, tác giả của cuốn Irresistible: The Rise of Addictive Technology and the Business of Keeping Us Hooked (tạm dịch: Không thể cưỡng lại được: Sự trỗi dậy của công nghệ gây nghiện và kinh doanh khiến chúng ta bị mê đắm), nhấn mạnh sự thật rằng suốt chiều dài lịch sử (rất lâu trước khi có smartphone) con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi dạng nghiện mang tính hành vi (behavioral addiction). Tuy nhiên, những công nghệ mới nổi trong thế kỷ trước đã thổi phồng những xu hướng này một cách mạnh mẽ.

Những cơn nghiện khiến chúng ta bỏ lỡ quá nhiều khoảnh khắc đến nỗi mà chúng ta sẽ chẳng bao giờ có cơ hội trải nghiệm chúng một lần nữa.

Sau khi đọc cuốn sách này, rõ ràng, việc chúng ta nghiện công nghệ hiện đại là căn nguyên của vài yếu tố mấu chốt mà kích thích một cơn nghiện khác.

Những phần thưởng biến đổi (Variable Rewards)

Mỗi lần bạn truy cập Facebook, có thể bạn nhận được 5 thông báo, cũng có thể chẳng có thông báo nào. Bức ảnh mới được đăng gần đây của bạn có lẽ nhận được 12 lượt Thích hoặc có lẽ có đến 270 lượt Thích. Hệ thống phần thưởng biến đổi này trở nên hấp dẫn vì những lý do hiển nhiên và luôn lôi kéo người dùng quay trở lại Facebook nhiều lần hơn nữa. Mỗi một phần thưởng đều là duy nhất. Mỗi một phản hồi bạn nhận được từ một bài đăng (post) bất kỳ đều được cập nhật trong thời gian thực và thay đổi cứ sau mỗi phút. Trạng thái tâm lý giống kiểu đánh bạc này rất khó để kiềm chế và nó thúc giục chúng ta cảm thấy cần phải quay trở lại Facebook đều đặn.

Yếu tố gây nhiễu (Distraction)

Nhàm chán là kẻ thù tệ đáng sợ nhất của chúng ta. Thế nên, chúng ta sẽ làm bất cứ thứ gì để tránh chạm trán với nó – thậm chí kể cả đó là thứ mà khiến chúng ta cảm thấy chẳng vui vẻ gì khi làm. Trong cuốn sách của Alter, ông đã tham chiếu một thí nghiệm rất thú vị được thực hiện vào năm 2014 về việc mọi người có thực sự thích làm mình bất ngờ hơn ngồi một mình với suy nghĩ của họ trong 20 phút. Nhiều người trong chúng ta thích sự hỗn loạn hơn những thứ có thể đoán trước được trong cuộc sống hàng ngày. Mạng xã hội (Social Media) củng cố hơn nữa quan điểm này bởi vì nó là một vòng lặp phản hồi (Feedback Loop) mà càng trở nên hấp dẫn hơn nữa khi chúng ta càng sử dụng nó.

Các tín hiệu dừng lại (Stopping Cues)

Vào năm 2012, Netflix chính thức công bố cuộc cách mạng binge-watch (thuật ngữ chỉ cách xem phim mới: khán giả xem 2 đến 3 tập liên tiếp của một bộ phim trong thời gian liên tục) bằng việc giới thiệu tính năng tự động phát (auto-play) trên toàn bộ nền tảng. Rất nhanh, Facebook và YouTube cũng áp dụng tính năng này. Kể từ  thời điểm đó, nhu cầu xem video đã tăng lên vùn vụt. Ngoài ra, tính năng kéo xuống (cuộn) không dừng lại (infinite scrolling) cũng trở thành xu hướng thiết kế chủ đạo trên mạng xã hội. Chẳng bao giờ hết nội dung để xem là lý do tại sao 5 phút (ví dụ, trên Facebook) lại thành 30 phút, một sự thật mà người dùng thậm chí còn chẳng hề hay biết.

Các chỉ số vô nghĩa (Vanity Metrics)

Trong văn hóa của chúng ta, con người bị điều khiển bởi sự theo đuổi không ngừng các mục tiêu “được số hóa” liên tục thay đổi như là kết quả của các phản hồi trong thời gian thực. Bạn vừa chạy được 10 dặm. Đã đi bộ được 10.000 bước. Bài đăng của bạn có 100 lượt chia sẻ. Bạn có người theo dõi thứ 1.000. Bạn đã vượt qua tất cả bạn bè và trở thành người có Snapstreak lâu nhất (đúng ra bạn là người tệ nhất trong tất cả vì dành thời gian chát chít nhiều nhất). Những “chiến thắng nhỏ” này chẳng có ý nghĩa gì, nhưng mỗi lần vậy, chúng lại mang đến cho chúng ta một ít dopamine, và tần suất nhận được “chiến thắng nhỏ” tăng lên thường xuyên càng khiến chúng ta dành nhiều thời gian hơn trên các mạng xã hội đó và cố gắng lập các kỷ lục tầm thường đó thật đều đặn.  

Công thức nghiện ngập này có uy lực vô cùng lớn, và phần đáng sợ nhất của nó là những yếu tố này khiến chúng ta xa dần các tương tác mặt-đối-mặt (face-to-face), dành ít thời gian cho gia đình và bạn bè, thậm chí là đánh bạc cả cuộc đời mình. Những cơn nghiện ấy khiến chúng ta bỏ lỡ quá nhiều khoảnh khắc đến nỗi mà chúng ta chẳng bao giờ có cơ hội trải nghiệm chúng một lần nữa.

Bài nói trên TED Talk năm 2017 với tựa đề “Why Our Screens Make Us Less Happy” (tạm dịch: Tại sao những chiếc màn hình khiến chúng ta ít hạnh phúc?) của Alter là bản tóm tắt rất xuất sắc về những vấn đề này và rất đáng để bạn dành thời gian tìm hiểu.

Nhận thức bản thân (Self-Awareness)

Đa phần mọi người không hề biết họ đã dành bao nhiêu thời gian sử dụng các thiết bị và Irresistible khám phá ra nhiều cách đáng báo động mà công nghệ đã xâm chiếm cuộc sống chúng ta trong suốt thế kỷ trước. Thiếu nhận thức bản thân là một trong những dấu hiệu rắc rối nhất của bệnh dịch này.

Tôi nhận ra rằng tôi phụ thuộc vào những công ty này để kiếm sống, nhưng một trong những lý do cho mối quan ngại của tôi đó là bởi vì các nền tảng quảng cáo của họ hiệu quả thật sự.

Cách đây vài năm, designer/developer Kevin Holesh đã tạo ra một ứng dụng có tính khai sáng mang tên Moment cho phép người dùng theo dõi thói quen dùng smartphone và thời gian sử dụng màn hình (screen time) mỗi ngày của họ. Về mặt tổng thể, các kết quả đều nhất quán: mọi người đánh giá rất thấp thời gian họ tiêu xài cho các thiết bị di động.

Trung bình, chúng ta kiểm tra điện thoại cứ mỗi 6 phút một lần, 150 lần mỗi ngày. Thậm chí khi điện thoại của chúng ta tắt, bản thân mỗi sự hiện diện của nó cũng được chứng minh là giảm năng lực nhận thức của chúng ta. Và trong chưa đến 2 thập kỷ, thời gian trò chuyện trực tiếp với gia đình và bạn bè cũng đã giảm gần 30%.

Nghiện công nghệ?
Source: USC Annenberg Center for the Digital Future.

Không thể phủ nhận rằng chúng ta say mê công nghệ vì nhiều lý do hiển nhiên, nhưng mối lo ngại là chúng ta không hiểu những hậu quả của những hành vi của mình. Thực tế, nhiều người dùng smartphone vẫn không thừa nhận sự mất tập trung mà họ gặp phải do các thiết bị của họ gây ra.

James Williams, cựu nhân viên Google và người ủng hộ cho thiết kế đạo đức (ethical design) tin rằng các mạng xã hội ngăn chúng ta suy nghĩ một cách rõ ràng và cuối cùng, sẽ ảnh hưởng tới chúng ta giống như một loại thuốc. Nền kinh tế chú ý (Attention economy) quay tròn quanh việc thiết kế để gây nghiện; do vậy, ông tin rằng nó ban đặc ân cho những ham muốn của chúng ta hơn là ý định của chúng ta”.

Chân thành mà nói, cá nhân tôi cảm thấy như thể tôi không đang giúp đỡ vấn đề. Trong gần một thập kỷ, tôi quản lý các chiến dịch Google AdWords và quảng cáo trên Facebook quy mô rộng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự chuyển dịch gần đây sang nền tảng di động (ví dụ: nghiện ngập) trở nên rất ồ ạt trên cả hai kênh.

Tôi hiểu sự trớ trêu này. Tôi nhận ra tôi phụ thuộc vào những công ty này để kiếm sống, nhưng một trong những lý do chính cho mối quan ngại của tôi là bởi vì các nền tảng quảng cáo của họ hiệu quả. Thực sự tốt.

Đấy là lý do tại sao họ sở hữu ngành công nghệ quảng cáo số (digital advertising industry). Những nhà quảng cáo lão làng trên khắp thế giới kiếm được hàng tỷ đô doanh thu từ việc nhắm tới người dùng trên mạng xã hội và mạng tìm kiếm, và dữ liệu mà Facebook và Google có trong tay sẽ chỉ trở nên quyền lực hơn theo thời gian.

(Các) Vấn đề của Facebook

Bề ngoài, Facebook là kẻ có tội rõ ràng nhất trong việc biến mọi người trở thành những con nghiện. Thậm chí, cựu chủ tịch của Google Sean Parker gần đây cũng khẳng định rằng mục tiêu ban đầu của Facebook là “ngốn thật nhiều thời gian và sự chú ý có ý thức của bạn càng nhiều càng tốt”.

Mọi người không tin Facebook. Có rất nhiều động lực đằng sau sự thật rằng mạng xã hội có thể tác động tiêu cực tới hạnh phúc về mặt cảm xúc (emotional well-being) của bạn. Phản ứng lại với điều này, Facebook thề sẽ tạo ra những thay đổi trong sản phẩm sau khi cuối cùng cũng thừa nhận rằng nội dung trên nền tảng có thể khiến mọi người “cảm thấy tệ hơn” sau khi rời khỏi trang. Tuy nhiên, cập nhật trên News Feed mới nhất mới chỉ là hoạt động mào đầu.

Roger McNamee, nhà đầu tư mạo hiểm thành công và là cựu cố vấn của Mark Zuckerberg tin rằng những thay đổi cốt yếu đối với kinh doanh phải xảy ra trước khi người dùng nhận ra sự khác biệt. Quan điểm của ông là chẳng có gì sẽ cải thiện với Facebook hoặc Googletrừ khi họ xóa bỏ các mô hình quảng cáo hiện tại”.

McNamee và nhiều người khác đồng ý rằng Facebook cần có trách nhiệm sửa chữa vấn đề. Và một cách chân thành… họ có một vài vấn đề. Nhưng rõ ràng tin tức giả (fake news) đang đe dọa sự tồn tại của họ.

Vào năm 2016, Zuckerberg đã phủ nhận một cách rất khôn khéo quan điểm tin tức giả có thể trở nên thịnh hành trên mạng xã hội này. Cựu tổng thống Barack Obama thậm chí còn cảnh báo họ điều này trước cuộc bầu cử tổng thống Donald Trump, nhưng họ không nghe và những gì đã xảy ra thì ai cũng biết. Giờ đây chúng ta đối mặt với tình huống người dùng sẽ càng chỉ trở nên dễ bị ảnh hưởng bởi sự lợi dụng và lừa dối khi họ dành nhiều thời gian hơn trên mạng xã hội lớn nhất thế giới này.

John Battelle, CEO của NewCo, có một vài ý tưởng thú vị về việc làm thế nào mà Facebook có thể tiếp tục, nhưng ông cũng đưa ra lý lẽ rằng bắt buộc phải có một quy định liên bang dành cho thung lũng Silicon. Một vài nhà làm luật bị chỉ trích mạnh mẽ vì ban hành thiếu luật. Thay đổi nền tảng đều đặn (cho người dùng và các nhà quảng cáo) không phải là vấn đề đối với Facebook, nhưng có lẽ đã đến lúc nó cần bắt đầu xem xét một sự dịch chuyển nghiêm túc mà tách doanh thu khỏi sự chú ý. Ở thời điểm này, bất kỳ một dạng nội dung hấp dẫn nào cũng được xem tương đương với lợi nhuận, bất kể nó tích cực, tiêu cực hay giả mạo.

Các thiết bị và trẻ em

Chúng ta có thể chỉ trích mạng xã hội, ứng dụng và trò chơi cả ngày, nhưng điều quan trọng cũng cần lưu ý rằng nguồn gốc của vấn đề bắt đầu từ việc iPhone được phát hành vào năm 2007. Kể từ đó, không có thứ gì được nguyên vẹn nữa.

Theo những thông tin thu thập được, sản phẩm quan trọng nhất của Apple là một phát minh mang tính hiện tượng mà đã thay đổi cuộc sống và cách mạng hóa các ngành công nghiệp, nhưng bản chất gây nghiện của thiết bị (và smartphone nói chung) rõ như ban ngày. Không may rằng chúng ta vẫn không hiểu tác động dài hạn của các thiết bị đối với trẻ em – thế hệ mà đã lớn lên cùng với những thiết bị đó, và bố mẹ của chúng cũng chẳng biết gì nhiều hơn.

Tôi cũng sợ rằng những chiến thuật lợi dụng và hành vi gây nghiện chỉ tăng lên theo độ lớn của mỗi thế hệ.

Gần đây, hai nhà đầu tư chính của Apple đã nói lên những mối lo ngại của họ về chứng nghiện smartphone trong một lá thư mở gửi tới công ty tại Cupertino. Bước đi chính này là hướng đi đúng đắn bởi vì trẻ nhỏ ngày càng dành thời gian nhiều hơn cho thiết bị mỗi ngày. Các con số đáng báo động như sau:

  1. Có đến 40% trẻ em từ 0 đến 8 tuổi có iPad riêng.
  2. Mỗi ngày, thời gian trung bình dành cho thiết bị di động của trẻ từ 0 đến 8 tuổi tăng khoảng 860% (từ 5 lên 48 phút) giữa năm 2011 đến 2017.
  3. Trung bình, trẻ em dưới 18 tuổi lôi điện thoại ra với tần suất gấp gần 2 lần so với người trưởng thành.

Nghiện smartphone cũng là lý do cho các rắc rối trong mối quan hệ và sự không hạnh phúc của thế hệ trẻ.

Cuối năm 2017, Facebook đã “đổ thêm dầu vào lửa” khi tung ra ứng dụng Messenger Kids cho trẻ từ 6 đến 12 tuổi. Điều này đã gây ra một làn sóng đấu tranh dữ dội. Là các bậc phụ huynh, có rất nhiều lý do để lo lắng. Vậy thì chúng ta làm gì bây giờ?

Dành thời gian hợp lý

Tristan Harris, một cựu nhân viên Google khác và chuyên gia về chứng nghiện công nghệ, là một trong những người tiên phong cho cuộc tranh luận này vài năm trước. Lời yêu cầu khẩn thiết của ông cho các công ty ở thung lũng Silicon là có cách tiếp cận thấu đáo hơn về thiết kế và thay đổi cách mà họ phát triển sản phẩm và mô hình kinh doanh.

Trong một lần rèn luyện, Harris đã gọi một “cuộc đua chiếm não”, các hãng công nghệ tiếp tục vay mượn các chiến lược từ một hãng khác nhắm tới việc khiến chúng ta trở nên nghiện hơn: video phát tự động (Netflix, YouTube, Facebook), tự động tag ảnh (Facebook, Google, Instagram), nút “Like” (Facebook, và sau đó các hãng khác), các thông báo đẩy (tất cả mọi người). Danh sách này còn kéo dài.

Trong một bài nói chuyện hấp dẫn khác trên TED Talk, ông giải thích việc đặt sự chú ý làm ưu tiên hàng đầu này đơn giản là một cách khác để lợi dụng người dùng nhằm mục đích tài chính.

Harris cùng với một nhóm các cựu nhân viên thung lũng Silicon khác gần đây đã khởi động một dự án đầy cảm hứng gọi là Center for Humane Technology (tạm dịch: Trung tâm của công nghệ vì con người). Ý tưởng là xây dựng một cộng đồng tận tâm cho những người làm trong lĩnh vực công nghệ mà đang làm việc để giải quyết “khủng hoảng sự chú ý kỹ thuật số” (Digital attention crisis) và tạo ra một mô hình mới.

Điều này bắt đầu với một bước dịch chuyển nhỏ có tên là “Time Went Spend” mà gần đây đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Thử thách ở phía trước không hề nhỏ, nhưng với tốc độ hiện tại của công nghệ, tôi cho rằng chúng ta chẳng hề có lựa chọn nào khác.

Nắm quyền kiểm soát

Những thông tin này có thể khiến chúng ta tiêu cực, nhưng tôi không muốn đánh giá thấp tầm quan trọng của công nghệ và các cơ hội mà chúng ta đang có. Cả sự nghiệp của tôi gắn liền với các cải tiến trong công nghệ và tôi biết ơn vì chúng. Tuy nhiên, tôi cũng lo sợ các chiến lược lợi dụng và hành vi gây nghiện chỉ tăng lên theo độ lớn của mỗi thế hệ.

Là bố mẹ của một bé 2 tuổi và một bé hai tháng tuổi, tôi và vợ tôi chủ tâm thảo luận về việc sử dụng công nghệ và đảm bảo thời gian con ngồi trước màn hình cũng là một hoạt động xã hội – chứ không tách biệt. Tuy nhiên, đôi khi mọi việc xảy ra không như ý muốn. Đôi khi, tôi cảm thấy tội lỗi vì sử dụng điện thoại thay vì đơn giản là ngồi cạnh con; tôi thấy thật khủng khiếp vì mỗi phút trôi qua đều rất quý giá. Tôi biết, tôi có thể làm tốt hơn.

Cố gắng lưu tâm đến những gì xảy ra xung quanh và hiện diện, nhưng những công ty công nghệ này không hề làm chuyện này trở nên dễ dàng hơn với chúng ta. Đặt đứa trẻ ngồi trước màn hình là một trong những cách nhanh nhất và dễ nhất khiến nó dường như “hạnh phúc” hơn trong ngắn hạn. Thật không may, đây không phải là điểm mấu chốt. Thực tế, bằng chứng cho thấy dành quá nhiều thời gian cho màn hình đang hủy hoại trẻ em, nhưng không cho trẻ em sử dụng thiết bị hay ngăn chặn công nghệ phát triển cũng là điều không thể. Có lẽ, chúng ta nên bắt đầu với việc thừa nhận chứng nghiện smartphone và hiểu rằng trẻ em dễ bị tổn thương hơn các lứa tuổi khác.

Thung lũng Silicon cũng nên sử dụng quyền lực của nó để giới hạn cơn nghiện thông qua việc phát triển các sản phẩm có đạo đức. Truyền thông số (Digital media) không nên được xem như là một chiếc máy bán hàng tự động nơi mà sự chú ý được chuyển thành tiền mà chẳng đi kèm với hậu quả gì. Các ảnh hưởng tiêu cực rất phong phú và sẽ chỉ trở nên dữ dội hơn khi cuộc đua vì sự chú ý trở nên dữ dội hơn.

Đồng thời, bạn cũng nên theo dõi thói quen dùng smartphone của mình. Cài đặt các ứng dụng hữu ích cho chính bạn. Tắt những thông báo không cần thiết. Có trách nhiệm với bản thân. Thiết lập giới hạn cho con trẻ. Là người trưởng thành, chúng ta phải chấp nhận và hiểu cơn nghiện của chúng ta trước khi khuyến khích hoặc kỳ vọng con cái cũng sẽ biết sử dụng smartphone một cách điều độ. Nói dễ hơn làm, nhưng bây giờ nó quan trọng hơn bao giờ hết.

Lưu ý: Danh xưng tôi trong bài là của tác giả Scott Greer.

 

Form Your Soul With Love

Source:

  1. How Do We Stop Technology Addiction?
  2. Ảnh đầu bài: Oliur.

* Vui lòng xem mục Bản Quyền khi muốn sử dụng lại bài viết.

 

 

Chia sẻ để bạn bè cùng đọc:

You may also like

Leave a Reply